Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2015

DÒNG SÔNG HUYỀN THOẠI


          SÔNG ĐUỐNG KINH BẮC

Xuôi dòng  lịch sử  bấy lâu
Dòng sông  trầm tích  in hình  sắt son
Sông xưa  bước nối  đôi bờ
Bắc Ninh  Kinh Bắc  với lòng  Thủ Đô



Ngân vang  thổn thức  tự hào
Sông xanh  chảy mãi  xuôi dòng  tháng năm
Đắm say  du mát  tình người
Ngây thơ  để lại  đôi bờ  nhớ thương



Quê hương  anh dũng  kiên cường
Khắc tên  dòng chảy  lên màu  Phù Sa
Ngân nga  khúc hát  vang lừng
Yêu thương  nồng cháy  chan hòa  ánh dương


Sông thương  sóng gió  khơi lòng
Dựng xây  thuở ấy  bây giờ  mãi xanh
Ơn sông  ơn nhớ  tên dòng
Non sông    rạng rỡ  ngọt ngào  thiết tha






Bắc Nam  sông Đuống  nối liền
Vương triều  Đại Việt  Dương triều  Long Quân
Lý Vương   yêu dấu  khởi đầu
Kinh Dương   trầm tích  dựng xây   ba miền       
                                

Sông Đuống, tên chữ  gọi là sông Thiên Đức hay Thiên Đức Giang : phần lớn chảy qua  Bắc Ninh , hàng trăm năm nay dòng Đuống vẫn lấp lánh, nghiêng nghiêng, chở bao huyền thoại, cổ tích cùng cả những oan khiên lịch sử , bồi đắp một nền văn hiến, văn hóa đặc trưng cho Bắc Ninh - Kinh Bắc.
Bắc Ninh - Kinh Bắc: là miền đất mà mỗi bước đi đều chạm vào huyền thoại, văn hóa và lịch sử. Nếu Bắc Đuống là vùng đất phát tích vương triều Lý, triều đại khởi đầu nền văn minh Đại Việt, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc thì Nam Đuống lại đậm đặc dấu thiêng, truyền thuyết về “Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - Âu Cơ là Thủy tổ Việt Nam, mở ra thời đại các Vua Hùng dựng nước làm rạng rỡ non sông đất Việt”. Qua cây cầu Hồ nối bờ Bắc với bờ Nam sông Đuống, chúng tôi về đất Thuận Thành - một vùng đất cổ, đậm đặc truyền thống văn hóa lâu đời, đầy trầm tích và huyền thoại. Thật hiếm có nơi nào như Thuận Thành, chỉ chưa đầy 120 km2 mà có đến ba Thủy tổ: Kinh Dương Vương-Thủy tổ dân tộcSĩ Nhiếp-Thủy tổ nền Hán học và chùa Dâu-chùa Tổ của Phật giáo


Sông Đuống được xếp vào hàng quán quân của những dòng sông có mật độ di tích văn hóa lịch sử dày đặc. Đó là nguồn tài nguyên du lịch quý hiếm, độc đáo chỉ duy nhất Bắc Ninh có được. Gần đây, song song với việc thực hiện quy hoạch tuyến du lịch “Ven sông Đuống”, tỉnh Bắc Ninh đã khởi động một số dự án trùng tu, tôn tạo các di tích hướng đến phát triển du lịch ...

Sông Đuống : là một con sông dài 68 km , nối sông Hồng với sông Thái Bình. Điểm đầu từ ngã ba Dâu  (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tại địa giới giữa 2 đơn vị hành chính là huyện Đông Anh và quận Long Biên của thành phố Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc (xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Về tổng thể sông Đuống chảy theo hướng tây-đông. Nó là một phân lưu của sông Hồng, trước đây chỉ là một dòng sông nhỏ, do cửa nối với sông Hồng bị cát bồi cao nên chỉ khi sông Hồng có lũ lớn mới tràn qua được . Từ năm 1958, cửa sông được mở rộng để trở thành một phần lưu quan trọng giảm sức uy hiếp của lũ sông Hồng đối với Hà Nội . So với lượng lũ của sông Hồng tại Sơn Tây thì sông Đuống tiêu được 20-30 % . Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, tại Thượng Cát ?, lưu lượng nước trung bình nhiều năm 880 m³/s , còn theo website tỉnh Bắc Ninh thì lưu lượng trung bình đạt khoảng 1.000 m³/s . Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất 9.000 m³/s (ngày 22 tháng 8 năm 1971) . Đoạn chảy qua Bắc Ninh dài 42 km . Mực nước cao nhất tại bến Hồ vào tháng 8 năm 1945 là 9,64 m , cao hơn so với mặt ruộng là 3 - 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m³ nước có 2,8 kg phù sa .
Sông Đuống là đường giao thông thủy nối cảng Hải Phòng với Hà Nội và các tỉnh ở phía bắc Việt Nam .
Các loại tàu thuyềnxà lan tải trọng từ 100 tấn đến 450 tấn có thể vận tải trên sông được cả trong 2 mùa 
Hiện trên sông Đuống có 5 cây cầu bắc qua :
3 Cầu Phù Đổng : trên quốc lộ 1A mới, nối xã Phù Đổng của huyện Gia Lâm và phường Phúc Lợi của quận Long Biên.
4 Cầu Phù Đổng 2 : trên quốc lộ 1A mới, đi song song với cầu Phù Đổng.
Cầu Hồ : trên quốc lộ 38; nối thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành với xã Tân Chi, huyện Tiên Du; đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra, sẽ có thêm 2 cầu đường bộ mới sẽ được xây dựng ngang qua sông Đuống, là: cầu Thạch Cầu, cầu trên vành đai giao thông đối ngoại (gần cầu Hồ hiện tại).
Ngoài ra, sẽ có thêm 2 cầu đường bộ mới sẽ được xây dựng ngang qua sông Đuống, là cầu Thạch Cầu cầu trên vành đai giao thông đối ngoại (gần cầu Hồ hiện tại )

Cầu Đông Trù Sông Đuống

Cầu Đông Trù bắc qua sông Đuống, nối liền quận Long Biên và huyện Đông Anh, giúp giải tỏa ùn ứ giao thông liên tỉnh từ hướng Hải Phòng, Quảng Ninh đi các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Hà Nội.

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp loáng
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
Xanh xanh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu ?
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?


                                (Nhà thơ Hoàng Cầm bên dòng sông Đuống thơ mộng)

Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Chợ Hồ, chợ Sủi người đua chen
Bãi Trầm Chỉ người giăng tơ nghẽn lối
Những nàng dệt sợi
Đi bán lụa mầu
Những người thợ nhuộm
Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Bây giờ đi đâu? Về đâu?
Bên kia sông Đuống
Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong
Dăm miếng cau khô
Mấy lọ phẩm hồng
Vài thếp giấy dầm hoen sương sớm
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gẫy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vết máu loang chiều mùa đông
Chưa bán được một đồng
Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong
Bước cao thấp trên bờ tre hun hút
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu?
Mẹ ta lòng đói dạ sầu
Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Bên kia sông Đuống
Ta có đàn con thơ
Ngày tranh nhau một bát cháo ngô
Đêm líu díu chui gầm giường tránh đạn
Lấy mẹt quây tròn
Tưởng làm tổ ấm
Trong giấc thơ ngây tiếng súng dồn tựa sấm
Ú ớ cơn mê
Thon thót giật mình
Bóng giặc dày vò những nét môi xinh
Đã có đất này chép tội
Chúng ta không biết nguôi hờn
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
Con là ai ? -Con ở đâu về ?
Hé một cánh liếp
Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng
Đêm đi sâu quá lòng sông Đuống
Bộ đội bên sông đã trở về
Con bắt đầu xuất kích
Trại giặc bắt đầu run trong sương
Dao loé giữa chợ
Gậy lùa cuối thôn
Lúa chín vàng hoe giặc mất hồn
Ăn không ngon
Ngủ không yên
Đứng không vững
Chúng mày phát điên
Quay cuồng như xéo trên đống lửa
Mà cánh đồng ta còn chan chứa
Bao nhiêu nắng đẹp mùa xuân
Gió đưa tiếng hát về gần
Thợ cấy đánh giặc dân quân cày bừa
Tiếng bà ru cháu xế trưa
Chang chang nắng hạ võng đưa rầu rầu
“À ơi… cha con chết trận từ lâu
Con càng khôn lớn càng sâu mối thù”
Tiếng em cắt cỏ hôm xưa
Hiu hiu gió rét mịt mù mưa bay
“Thân ta hoen ố vì mày
Hờn ta cùng với đất này dài lâu…”
Em ơi! Đừng hát nữa! Lòng anh đau
Mẹ ơi! Đừng khóc nữa! Dạ con sầu
Cánh đồng im phăng phắc
Để con đi giết giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm chắc tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng con chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để nó cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu đồn giặc tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu nỗi đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trảy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

(Việt Bắc, tháng 4-1948) Thơ Hoàng Cầm
...................DS & CN.................... ............................... Trương văn Khẩn ...............................



           SÔNG NHO QUẾ HÀ GIANG _
Sông xanh  huyền thoại  Đất Trời
Xưa kia  Tây Bắc  ngập tràn  núi cao
Dưới sâu  hạn hán  khô cằn
Cây xanh  dần héo  thật là  xót thương

Thần Sông  hỏi lối  qua đường
Núi Cao  giả ngủ   bốn mùa  không thưa
Sông xưa  kiện tới  Ngọc Hoàng
Bèn sai  thần Sét  mang  gươm  chẻ thành

Sông xanh  mãi mãi  xanh màu
Long lanh  dòng chảy  êm đềm  ngát xanh 
Sông Nho Quế mềm mại uốn lượn quanh co óng ả , với dòng nước êm đềm xanh ngát mát lạnh dài 192 km, đoạn chảy qua Việt Nam dài 46 km , đến với Hà Giang, một trong những địa danh nổi tiếng của vùng đá Cao Nguyên người ta nhắc đến nhiều nhất chính là sông Nho Quế, con sông nổi tiếng dưới chân đèo Mã Pì Lèng huyền thoại.
Sông Nho Quế (phần thượng lưu ở Trung Quốc gọi là sông Phổ Mai) bắt nguồn từ vùng núi Nghiễm Sơn (Vân Nam, Trung Quốc), chảy theo hướng tây bắc - đông nam xẻ qua cao nguyên Đồng Văn, qua các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc thuộc địa phận tỉnh Hà Giang rồi nhập vào sông Gâm , phần nhập vào tại Na Nát thuộc xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
Sông chảy vào Việt Nam tại Lũng Cú, đây là đoạn ranh giới giữa hai nước "Việt - Trung" đến gần Đồng Văn thì chảy hẳn vào nội địa Việt Nam, qua hẻm núi Tu Sản rồi chảy dọc theo đèo Mã Pì Lèng. Đến Mèo Vạc thì sông Nho Quế tách ra chảy theo hướng đông , đông nam vào địa phận Cao Bằng, cuối cùng đổ nước vào sông Gâm. Ở giáp ranh tỉnh Cao Bằng, sông Nho Quế có một chi lưu đổ vào là sông Nhiệm.



...............DS &CN............... .......................... Trương văn Khẩn...........................

Không có nhận xét nào: