Tiền Sinh Định Mức Cho Người
Cho Dân Tiêu Giữ Cho Nhà Ấm Êm
Cho Dân Tiêu Giữ Cho Nhà Ấm Êm
Tiền Không Định Mức Thể Quyền
Không Nên Trấn Giữ Kiêu Hùng Thế Gian
Không Nên Trấn Giữ Kiêu Hùng Thế Gian
Thời kỳ Việt Nam là một phần của : Đông Dương thuộc Pháp
một trăm đồng đông dương
Đồng bạc Đông Dương : Trong thời kỳ này, đơn vị tiền tệ của cả khu vực Đông Dương là piastre, được dịch ra tiếng Việt là "đồng" hay đôi khi là "bạc". Tiền tệ do chính quyền trong giai đoạn này lấy bạc làm bản vị nhưng những đồng tiền của các triều vua nhà Nguyễn vẫn được lưu hành chủ yếu ở các vùng nông thôn mặc dù bất hợp pháp. Tiền đúc lúc đầu có đồng bạc México nặng 27 gam 073 (độ tinh khiết 902 phần nghìn), sau đó là đồng bạc Đông Dương được đúc ở Pháp nặng 27 gam (độ tinh khiết 900 phần nghìn) . Tiền giấy thời kỳ này được Ngân hàng Đông Dương phát hành và có thể đem đến ngân hàng đổi thành bạc . Một sắc lệnh ngày 16 tháng 5 năm 1900 cho phép Ngân hàng Đông Dương in tiền giấy gấp ba lần số bạc đảm bảo , nhưng khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất xảy ra thì tỷ lệ này không còn giữ được nữa, tiền giấy phát hành gấp nhiều lần số bạc đảm bảo. Sau một số biện pháp cải cách tiền tệ, ngày 31 tháng 5 năm 1930, Tổng thống Pháp có sắc lệnh quy định đồng bạc Đông Pháp (Đông Dương) có giá trị là 655 miligam vàng (độ tinh khiết 900 phần nghìn), từ đó chấm dứt chế độ bản vị bạc mà chuyển sang bản vị vàng .
Tiến giấy 10 đồng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1951
Tiền 50 đồng VNCH năm 1975
Từ 1945-1954: Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 31 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nghị định phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và ngày 31 tháng 11 năm 1946, giấy bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Một mặt in chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán và hình Hồ Chí Minh; một mặt in hình Nông - Công - Binh. Các loại giấy bạc đều cósố Ả Rập, chữ quốc ngữ, chữ Hán, Lào, Campuchia chỉ mệnh giá, có ký tên Bộ trưởng Bộ Tài chính (Phạm Văn Đồng hoặc Lê Văn Hiến) vàGiám đốc Ngân khố trung ương. Do đó ngoài tên gọi là giấy bạc cụ Hồ, nhân dân còn gọi là giấy bạc tài chính. Ngày 5 tháng 6 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nghị định thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và phát hành giấy bạc ngân hàng. Giấy bạc ngân hàng đổi lấy giấy bạc tài chính theo tỷ lệ 1 đồng ngân hàng đổi 10 đồng tài chính. Giấy bạc ngân hàng có các loại mệnh giá: 1 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1.000 đồng và 5.000 đồng. Một mặt in chữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (chữ Hán và chữ quốc ngữ) và hình Hồ Chí Minh; một mặt in hình Công - Nông - Binh, hình bộ đội ở chiến trường. Trên tờ giấy bạc có số hiệu, mệnh giá ghi bằng số Ả Rập, chữ quốc ngữ và chữ Hán. Sau đó, việc liên lạc giữa địa phương và trung ương có nhiều khó khăn, nên chính quyền trung ương cho phép Trung Bộ và Nam Bộ phát hành tiền riêng. Tiền này có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Hình ảnh trang trí cũng tương tự như giấy bạc ngân hàng chỉ khác là trên giấy bạc có chữ ký của Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ (Phạm Văn Bạch), đại diện Bộ trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân khố Nam Bộ. Một số tỉnh được phát hành tín phiếu, phiếu đổi chác, phiếu tiếp tế.... hoặc giấy bạc chỉ lưu hành trong tỉnh. Thời kỳ đó, ở Nam Bộ nền kinh tế chia ra hai vùng, sử dụng hai loại tiền khác nhau, vùng thuộc sự kiểm soát của Pháp lưu hành tiền do Pháp phát hành. Mặt khác, mặc dù Chính phủ phát hành tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng do phương tiện giao thông còn khó khăn nên loại tiền này không lưu hành đến Nam Bộ. Chính vì thế, sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân Nam Bộ vẫn sử dụng các loại tiền giấy, tiền kim loại do chế độ cũ phát hành.
Từ 1954-1975: Sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam, miền Bắc và miền Nam có hai chế độ khác nhau, mỗi chế độ in tiền riêng, đều gọi là đồng. Ở miền Nam, từ năm 1953, lưu hànhĐồng (tiền Việt Nam Cộng hòa).
Sau 30 tháng 4 năm 1975: tiền miền Nam phải đổi thành tiền giải phóng với giá 500 đồng miền Nam cho mỗi đồng giải phóng từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào, ở Thừa Thiên-Huế trở ra, 1000 đồng tiền miền Nam đổi được 3 đồng giải phóng. Vào năm 1978, sau khi thống nhất hai miền về mặt hành chính, đã có một cuộc đổi tiền nữa. Tỷ giá đổi tiền miền Bắc là 1 đồng cũ thành 1 đồng thống nhất trong khi tại miền Nam 1 đồng giải phóng thành 8 hào tiền thống nhất. Lần đổi tiền thứ ba xảy ra vào năm 1985, khi 10 đồng tiền cũ đổi thành 1 đồng tiền mới.
Trong tiếng Việt, "đồng" cũng có thể dùng để chỉ đến những đơn vị tiền tệ nước ngoài, đặc biệt là những đơn vị ít người biết đến. Trong một số cộng đồng dùng tiếng Việt ở hải ngoại, đồng cũng có thể dùng để chỉ đến đơn vị tiền tệ địa phương.
Những năm gần đây, Việt Nam cho ra đời tiền kim loại có mệnh giá nhỏ kết hợp với việc in tiền mới (đổi chất liệu in từ giấy cotton sang polymer), nhưng một số tờ tiền mới in đã gặp vài lỗi kỹ thuật .
Lần thứ nhất đổi : Ngày 15 tháng 5 năm 1947, Chính phủ ra sắc lệnh 48/ SL cho phép lưu hành trong cả nước giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 500 đồng. Giấy bạc Tài chính thời kì này được in LITÔ hay TIPÔ, ốp sét trên giấy in xấu nên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng từng mẫu tiền. Đồng thời nhà nước thực hiện thu đổi đồng bạc Đông Dương, tỷ lệ 1 đồng Việt Nam lấy 1 đồng bạc Đông Dương .
Lần thứ hai đổi : Ngày 6/ 5/ 1951 tại sắc lệnh số 15/ SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký chuẩn y việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt nam (NHQG VN) (để thay thế “Nha ngân khố quốc gia” và “Nha tín dụng sản xuất” trực thuộc Bộ Tài Chính đã thành lập trước đó trên cơ sở “Việt nam quốc gia Ngân hàng” thuộc Bộ Tài chính được thiết lập theo sắc lệnh số 86/SL ngày 17/9/1947 của Chủ tịch Chính phủ dân chủ cộng hoà Việt nam). Ngay khi ra đời, theo sắc lệnh số 19/SL và 20/SL ngày 12/5/1951 NHQG đã chính thức phát hành đồng tiền giấy mang tên: "NHQG Việt Nam" thay đồng tiền Tài chính. Đổi 10 đồng tiền Tài chính ăn 1 đồng tiền NHQG - Một cuộc đổi tiền diễn ra tới 20 tháng, dài nhất trong lịch sử đổi tiền của NHVN.
Lần thứ ba đổi : Vì tiền NHQG đầu tiên được in ra năm 1951 là để đổi đồng Tài chính trước đó nên hầu hết những người có tiền đổi là thuộc khu vực công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên đến tháng 2 năm 1959 Chính Phủ quyết định phân phối lại thu nhập và đã đổi tiền lần thứ 2 với tỷ lệ 01 đồng NHQG mới ăn 1000 đồng NHQG cũ. Với giá trị mới này, vào thời điểm từ tháng 2/1959 đến tháng 10/1960 một đồng NGQGVN bằng 1,36 Rúp Liên Xô và cũng tương đương 1,2 USD. Cuộc đổi tiền năm 1959 được đánh giá là “ngoạn mục” nhất trong lịch sử tiền tệ Việt Nam. Đến tháng 10/ 1961 đồng tiền NHQG VN ở miền Bắc được đổi tên thành đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam (NHNN VN) với cùng một mệnh giá để tránh trùng tên với đồng tiền NHQG ở miền Nam của chính phủ nguỵ quyền Sài Gòn .
Lần thứ tư đổi : Trong 3 năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng, để có một thời gian đệm cần thiết và quan trọng, hai miền vẫn dùng hai đồng tiền khác nhau: Miền Bắc vẫn là tiền NHNN Việt Nam, miền Nam tiếp tục dùng tiền của chính quyền cũ. Ngày 3/5/1975 chính quyền cách mạng tiếp quản NHQG của Nguỵ quyền Sài Gòn và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ trong lưu thông để không gây rối loạn trong lưu thông tiền tệ ở miền nam những ngày đầu giải phóng. Ngày 6/6/1975 - 5 tuần sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT - 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và Trung Ương đảng lao động Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên qui mô toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là "Tiền Ngân hàng Việt Nam" (còn gọi là tiền giải phóng) vào lưu thông với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500đ tiền của chế độ cũ và tương đương với 1 USD .
Lần thứ năm đổi : Ngày 2/5/ 1978 - Đúng dịp kỷ niệm 3 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam công bố đổi tiền lần thứ 3 trên phạm vi toàn quốc, thống nhất tiền tệ cả nước với tỷ lệ 1đồng tiền NHNN cũ ở miền Bắc hoặc 0,8 đồng tiền Giải phóng ở miền Nam ăn 1đồng NHNN mới .
Lần thứ sáu đổi : Trước tình hình diễn biến phức tạp của lưu thông hàng - tiền và nạn khan hiếm tiền mặt nghiêm trọng trong thanh toán, ngày 14/9/1985 Nhà nước lại phải công bố đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền NHNN cũ ăn 1 đồng tiền NHNN mới phục vụ cuộc cách mạng về giá và lương. Nhà nước đã cho phát hành thêm vào lưu thông một khối lượng lớn tiền tương đương với 1,38 lần khối lượng tiền mới đã phát hành trong đợt đổi tiền trước đó để phục vụ công cuộc cải cách lương và giá.
Từ Tiền có hai loại làm bằng chất liệu Nhôm và Giấy : Tiền Xu các mệnh giá từ 1 hào , 2 hào , 5 hào , 1 đồng . Tiền Giấy có mệnh giá từ 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng,10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng (hai loại), 100 đồng, 500 đồng với mặt trước luôn có quốc huy và quốc hiệu, mặt sau có hàng chữ NHNNVN và năm in 1985 cùng các hình ảnh của đất nước .
Trong năm 1987 - 1988, ngân hàng phát hành bổ sung thêm vào lưu thông các loại tiền mới luôn có chân dung Hồ Chủ tịch ở mặt trước : tờ 200 đồng; tờ 500 đồng đang còn sử dụng.
Tờ 1.000 đồng; tờ 2.000 đồng và tờ 5.000 đồng. Cả 3 tờ hiện dần bị thu hồi nay hầu như đã không còn lưu thông.
Tiền thu hồi
Tiếp theo, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục phát hành thêm các loại tiến giấy 100 đồng (2 loại) hiện nay vẫn còn được sử dụng như đơn vị nhỏ nhất : tờ 1.000 đồng (2 loại) in năm 1988 : tờ 2.000 đồng (2 loại) in năm 1988 : tờ 5.000 đồng in năm 1991 cùng các tờ 10.000 đồng màu đỏ (2 loại)
Tiền vẫn lưu hành
Tờ 20.000 đồng màu xanh dương và 50.000 đồng (2 loại) màu xanh lục 100.000 đồng màu nâu (cả 3 tờ này đều có hình chìm chân dung Hồ Chủ tịch) lưu hành đến năm 2005.
Sau khi ban hành Nghị định 53, tình hình tiền tệ có phần ổn định; ngày 24/5/1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh số 37.HĐNN công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và lệnh số 38.HĐNN công bố Pháp lệnh Ngân hàng; Hợp tác xã; Công ty Tài chính... xác lập đầy đủ về cơ sở pháp lý của hệ thống ngân hàng hai cấp trên toàn quốc. Kinh tế ổn định, giá cả thị trường mấy năm liền không thay đổi mấy nên lạm phát giảm dần : năm 1993 là 5,3%; năm 1996 xuống 4,5% và năm 1997 chỉ còn 3,6%. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định : "Chuyển mạnh chính sách tiền tệ và hoạt động của ngân hàng phải phù hợp với cơ chế thị truờng, góp phần ổn định giá trị đồng tiền, quản lý ngoại tệ và vàng..."
Và để đánh dấu sự đổi mới trưởng thành của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tháng 10 năm 1998, Nhà nước đã ban hành Luật Ngân hàng.
Tiền polymer tại Việt Nam :
Là loại tiền bằng polymer được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành năm 2003 mệnh giá nhỏ nhất là 10.000 đ , lớn nhất là 500.000 đ có giá trị lưu hành song song với các đồng tiền cũ với mục tiêu đáp ứng nhu cầu lưu thông tiền tệ về cơ cấu mệnh giá (thêm loại tiền có mệnh giá lớn), chủng loại, đồng thời nâng cao chất lượng, nhất là khả năng chống làm giả của đồng tiền.
Ðồng thời, Thực hiện Quyết định số 1304/QÐ-TTg ngày 27/11/2003 và Quyết định số 226/QÐ-TTG ngày 1/3/04 của Thủ Tướng Chính Phủ, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tiếp tục phát hành vào lưu thông năm loại tiền kim loại với các mệnh giá : 200 đồng; 500 đồng; 1.000 đồng; 2.000 đồng và 5.000 đồng với mặt trước của cả 5 mệnh giá đều có dòng chữ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bao quanh hình Quốc huy, năm phát hành.
Loại Tiền Xu 200 đồng và 500 đồng màu trắng bạc bằng thép mạ niken .
Loại Tiền Xu 1000 đồng Ðường kính (23.5)mm; khối lượng (5,1)g; độ dày mép (1,8)mm màu vàng đồng thau bằng thép mạ đồng vàng vành có khía ngắt quãng liên tục. Mặt sau có dòng chữ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, mệnh giá đồng bạc và hình nhà Long đình Chùa Bát Ðế.
Loại Tiền Xu 2000 đồng Ðường kính (25.5+/-0,05)mm; khối lượng (7,7+/-0,15)g; độ dày mép (2,2+/-0,1)mm màu vàng đồng thau bằng thép mạ đồng vàng có khía ngắt quãng 12 đoạn. Mặt sau có dòng chữ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, mệnh giá đồng bạc và hình nhà rông Tây Nguyên.
Loại Tiền Xu 5000 đồng Ðường kính (25.5+/-0,05)mm; khối lượng (7,7+/-0,15)g; độ dày mép (2,2+/-0,1)mm màu vàng ánh đỏ bằng hợp kim CuAl6Ni92; vành có khía vỏ sò. Mặt sau có dòng chữ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, mệnh giá đồng bạc và hình chùa Một cột.
Thực hiện Quyết định số 1304/QÐ-TTg
Ngày 27/11/2003 của Thủ Tướng Chính phủ. Kể từ ngày 17 tháng 12 năm 2003. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam phát hành bổ sung vào lưu thông 2 loại tiền mới in trên polymer có mệnh giá 50.000 đồng và 500.000 đồng. Loại tiền mới này lưu hành song song với đồng tiền hiện tại, không thay thế tiền cũ.
Ðồng Tiền 50.000 đồng có kích thước (140 x 65)mm, màu nâu tím đỏ trên chất liệu polymer. Có hình thức chung :
Ðồng Tiền 500.000 đồng có kích thước (152 x 65)mm, màu lơ tím sẫm trên chất liệu polymer. Có hình thức chung :
Ngày 1 tháng 9 năm 2004. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam phát hành bổ sung vào lưu thông loại tiền mới in trên polymer có mệnh giá 100.000 đồng.
Ðồng Tiền 100.000 đồng có kích thước (144 x 65)mm, màu xanh lá cây đậm trên chất liệu polymer. Có hình thức chung :
Năm 2006. Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam phát hành bổ sung vào lưu thông loại tiền mới in trên polymer có mệnh giá 10.000 đồng; 20.000 đồng và 200.000 đồng.
Ðồng Tiền 10.000 đồng có kích thước (132 x 60)mm, màu nâu đậm trên nền vàng cam. Có hình thức chung :
Ðồng Tiền 20.000 đồng có kích thước (136 x 65)mm, màu xanh lơ thẫm chất liệu polymer. Có hình thức chung :
Ðồng Tiền 200.000 đồng có kích thước (148 x 65)mm, màu đỏ nâu trên chất liệu polymer. Có hình thức chung :
Và từ đến nay Tiền Giấy 1000đ , 2000đ , 5000đ cùng tiền polymer vẫn lưu truyền và được nhân dân tiêu thụ ... Còn Tiền Xu 200đ , 500đ và 1000đ , 2000đ và 5000đ hầu như không lưu truyền và tiêu thụ
..........DS & CN.......... ............................... Trương văn Khẩn ...............................







































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét