Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

TƯ DUY ĐẠO GIÁO

"Tư duy" thôi thúc tinh thần
Thông qua trí tuệ tâm hồn khắc sâu
Dựa trên chính khả năng mình
Niềm tin sắt đá theo cùng khát khao

Chung vui chung ý chung tình 

Chung trong phong cách giữ gìn trước sau
Niềm tin chiến thắng tưng bừng
Chiến công vang dội sánh cùng tháng năm


Tư Duy: là quan điểm riêng, là giữ vững và phát triển... là bản lĩnh sáng tạo trong niềm tin chiến thắng của con người.. với sáng tạo sửa đổi về mọi mặt từ vật chấttinh thần .. từ trong tư tưởng cá thể đến tập thểcộng đồngxã hội .. 
Với biện chứng của sự phán đoán, trừu tượng, trong tâm tư hoặc lý luận dựa chính vào năng lực, trình độ, trí tuệ của mình khi công bố quyết đoán về sự việc, tư duy ở một trạng thái rất thuần túy nhưng nó tích tụ và chứa đựng những ý niệm tuyệt đối cao, những ý niệm tuyệt đối đó chuyển hóa thành hiện thân của tự nhiên, thì tư duy cũng chuyển hóa theo.. 

Khi trở về hiện thân của tự nhiên, sự "tư biện luận" vẫn duy trì và tiếp diễn trong tư duy, thì tư duy sẽ trở thành "tinh thần tuyệt đối", của vật chất cơ thể cũng như não bộ của con người. Ở giai đoạn này, tư duy phát triển đến mức cao nhất, bao gồm cả ý thức cá nhân, đến ý thức tập thể hay một xã hội, quốc gia, cũng như các hình thức của tôn giáo, văn hóanghệ thuậttriết học...


Trong triết học duy vật biện chứng, tư duy đã xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người, quá trình này, con người đã so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tính bao gồm các hình thức như: Cảm giác, tri giác biểu tượng của lý luận hay các ý nghĩ đã trùng khớp với nhau.
Trải qua các quá trình khái quát hóatrừu tượng hóa, rồi phân tích tổng hợp để rút ra các khái niệm của phán đoán lý luận và giải quyết. Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát chung, vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ trước. Tư duy với tư cách là hoạt động tâm lý bậc cao nhất, chỉ có ở con người và chính là do quá trình kết quả của lao động sáng tạo mà ra...

Tư duy của con người đã phát triển lên đỉnh cao với sự thích ứng bản năng của mình, từ năng lực, trừu tượng thuần hóa, tư duy ngày càng sâu sắc hơn bởi chính nó đã nhận thức được bản chất của hiện tượng về quy luật của tự nhiên và nhận biết được chính bản thân mình.
Đối với triết học, tư duy là một khái niệm - phạm trù quan trọng, bởi trong phạm trù này nó đã giúp lý giải các hoạt động có tính phi vật chất của cá thể con người như: giải trí, tín ngưỡng, nghiên cứu, học tập và các hình thức lao động "trí lực", đồng thời có ảnh hưởng tích cực đến cả lao động "thể lực". Đối với xã hội, tư duy là mối liên lạc, liên kết ý thức cao cho cộng đồng, là cơ sở để tạo nên nền tảng vững mạnh trong hệ thống xã hội như: hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học hay tôn giáo nghệ thuật... 

Người ta dựa vào tư duy để nhận thức những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội, con người.. mà cũng là để điều chỉnh hành động của mình phù sao cho phù hợp với các quy luật đó. Trong cơ chế hoạt động, cơ sở của tư duy được dựa trên hoạt động sinh lý của bộ não với tư cách là hoạt động thần kinh cao cấp, mặc dù không thể tách rời não nhưng tư duy không hoàn toàn gắn liền với một bộ não nhất định, bởi trong quá trình sống, con người giao tiếp với nhau, do đó, tư duy của từng người tự biến đổi và phổ biến qua quá trình hoạt động của bản thân từng ngày, cùng chịu sự tác động biến đổi của cộng đồng và tự nó hoạt động có tính vật chất chung với nhau
Do đó, tư duy không hẳn chỉ gắn với não bộ của từng cá thể, mà còn gắn liền với sự tiến triển của gia đìnhtập thể cũng như một xã hội, nó vừa trở thành một sản phẩm có tính chất chung trong xã hội mà vẫn duy trì được tính chất riêng trong cá thể mỗi con người. Tư duy là một sức mạnh trong cử chỉ, lời nói của người lãnh đạo trong chính trị, và là niềm tin ôn hòa cho một tập thể chính trị được thống nhất. Bởi vậy tư duy càng sáng suốt, càng mạnh mẽ duy trì thì niềm tin thành công chiến thắng càng cao.. 
Khi mà các cấu trúc của xã hội con người chuyển hóa theo tự nhiên, thì tư duy cũng đã biến chuyển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ theo lên. Nó được xây dựng và hình thành trong các Chính thể nhà nước cũng như các gia tộc hoặc lan theo các tôn giáo, của Đạo giáo.. Mà trong đó Đạo giáo là ảnh hưởng lớn nhất đến con người, với sự ảnh hưởng của các lĩnh vực như: Chính trị, kinh tế, triết học,cũng như: Văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hóa họcvũ thuật địa lí
Tư duy là tiêu chí giữ gìn và sáng tạo sửa đổi về mọi mặt từ vật chất, tinh thần .. qua biện chứng của tư duy là một trong các đặc tính có vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao nhất, trong tư tưởng từ cá thể đến tập thể, cộng đồng, xã hội .. 
Ví Dụ : Trong thời phong kiến xa xưa ở Việt Nam, đã định hình cấu trúc của xã hội ra làm 12 nghề nghiệp, chức tước, riêng biệt, ý như một người đàn ông trụ cột trong gia đình sau này cho người phụ nữ kén chọn lấy làm chồng và nương tựa, gọi như 12 bến nước: "Canh, Tiều, Ngư, Mục, , Nông, Công, Thương, Công, Hầu, , Tử". 

Trong đó ", Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục" là 8 ngành nghề xếp theo thứ tự ưu tiên, còn lại như : "Công, Hầu, , Tử" là 4 thứ bậc xếp cao thấp về cấp quyền lực, chức tước của ngành nghề, theo quan niệm xưa, có 4 thứ hạng, gọi là tứ dân: ", nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục". Tức là nghề đánh cá, đốn củi, làm ruộngchăn nuôi. Ngày nay, ta gọi là ngư nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp (gồm cả trồng trọt chăn nuôi).





Văn chương tô vẽ con đường
Dựng xây hướng "Đạo" chỉ người đúng sai
Khuyên ngăn nhắn nhủ kiên cường
Thanh cao đức độ vững vàng sáng trong

Từ xưa đến tận bây giờ 
Bao nhiêu "Giáo dưỡng" vỗ về đắp xây 
Nâng cao trí tuệ con người
Luôn luôn vững mạnh hướng về tương lai

Đạo Giáo: Theo nghĩa của Đạo, là con đường, là đường đi, giáo là sự dạy dỗ cho con người.. Nguồn gốc khi lịch sử được xác nhận của một loạt Đạo giáo sinh ra và phát triển từ khoảng thế kỉ thứ 4 đến thế kỉ thứ 7 trước CN. Khi mà con người bắt đầu bước vào thời kỳ đỉnh điểm trừu tượng về ngôn ngữ và tư luận về cái đẹp... Cũng là lúc mọi chính quyền và chính sách bảo hộ cho an nguy sự sống loài người còn rất thấp, do bởi các thế lực cạnh tranh, tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc. Bởi vậy con người mới căn cứ vào quy luật tự nhiên của: trời đất, sông núi hay những loài động vật có sức mạnh trong thực tế cũng như trừu tượng nghĩ ra, cùng với những thứ trái ngược nhau như: trắng đen, mạnh yếu của Lửa, nước, hay Sáng tối của bầu trời. Nhằm mục đích đề cao tôn thờ và xây dựng những quy định, luật lệ, theo chiều hướng thống trị. Bởi đó là đấng tối cao, là phép màuđầy đủ sức mạnh lẽ phải chân chính mang đến cho con người sự bình yên và công bằng nhất, những thứ đó họ coi là Thần linh, là thượng đế... rồi ("tôn trọng điều linh thiêngtôn kính thần linh" hay "bổn phận của sự gắn kết giữa con người với thần linh"). Vì thế Tôn giáo đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ...
Theo một nhận thức của người sáng lập, Tôn giáo là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên và hoàn thiện, từ đó làm lợi ích cho vạn vậtcon người, đôi khi đồng nghĩa với "tín ngưỡng", thường được định nghĩa thành niềm tin vào những gì của siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo,, lễ nghi, tục lệ.. tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về Tôn giáo, đã chia cắt thế giới thành hai phần, đó là: thiêng liêng và trần tục. 
Trần tục, là những gì bình thường trong cuộc sống con người phải có như: Ăn mặc, lao động, sinh hoạt vợ chồng con cái, giao tiếp buôn bán, tham gia xã hội một cách tự do lành mạnh.. Sống trong phong tục, tập quán của chính quê hương mình, niềm tin của họ được tạo nên bằng chính năng lựctrí tuệ của họ... Khi yêu thương, quyết định một công việc gì đó là do chính mình, hoặc sự tham gia của Cha Mẹ.
Thiêng liêng, lại là cái siêu nhiên, siêu phàmthần thánh... với trước sự thiêng liêng, con người thường sử dụng lễ nghi, thủ tục hay thời gian để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái...  Trong tư tưởng và niềm tin, phải tuyệt đối với thánh thần hay một đấng tối cao, sự thưởng phạt và cho phép sẽ nghiêm minh trong điều linh thiêng.. Đó chính là cơ sở của tôn giáo, định nghĩa về ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại tôn giáo. Chính vì thế những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học.

Đạo trong sự trình bày và cách thức xây dựng của các phương hướng đều có một khái niệm trừu tượng giống quy luật của tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên, mà mọi thứ cái bé phải theo cái lớn. "Người ta bắt chước Đất, Đất bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên", tuân theo nguồn gốc của vạn vật. Cũng từ đây Đức được xây dựng thành.
Đức sinh ra là biểu hiện chân lý cụ thể của Đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật, nhưng làm cho vật nào, khi đã hình thành sinh trưởng tốt đẹp và có ý nghĩa hơn, lại phải căn cứ vào Đức để được tồn tại mãi mãi trong vũ trụ. Nếu "Đạo là cái Tĩnh vô hình, thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo". Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ, thì Đức là sự cấu tạo để tồn tại vũ trụ... Chính con người trên thực tế mới thấu hiểu và nắm bắt được ưu thế sức mạnh quy luật ấy, đã vận dụng xây dựng cho mình thành một quy luật, một con đường theo ĐạoGiáo dậy trong Đức tính tốt đẹp để duy trì cho sự sinh tồn của chính con người cũng như vạn vật.. 

Khi mà mọi Đạo được sinh sôi và nảy nở theo muôn chiều hướng giáo dạy.. thì cũng là lúc con người tranh cãi, về địa vị, thế lực cho lẽ phải nhiều nhất. Khi tranh đấu cũng có trí tuệ, lý luận, trừu tượng về ngôn ngữlãnh thổ .. Để rồi phải có sự thắng thua, công bằng cho tất cả, và âm thầm những thế lực chiến tranh bắt đầu bùng nổ giữa "con người với con người". Đó là những bước ngoặt bước sang kỉ nguyên mới cho loài người lập thành Công nguyên, và sinh ra Lịch học để đánh dấu lại tất cả mọi quá trình phát triển tiếp theo trước đó... Bắt đầu bằng những chiến tranh của các "vị thần" nhân chứng như: thần sáng, thần tối, giữa cái thiệncái ác .. mà do con người làm minh chứng và trực tiếp lãnh đạo. Bởi vậy đã có một số tôn giáo xuất hiện trên thế giới, do một người hay một chủng tộc với người đứng đầu đã sáng lập và tuyên truyền ra như một Đạo giáo.

Kitô giáo: phát triển rất sớm, cũng là tôn giáo lớn nhất thế giới với 2,2 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 32% dân số thế giới). Xuất hiện vào thế kỷ thứ nhất như một hình thức cải cách triệt để của Do Thái giáo, mau chóng lan truyền đến Hi Lạp La Mã, từ đó tiến đến Âu châu, Á châu, Mỹ châu và các nơi khác trên thế giới. Trải qua nhiều thế kỷ, Kitô giáo tự chia cắt thành nhiều giáo hội và giáo phái khác nhau. Đây là tôn giáo độc thần họ tin rằng Giêsu là Con của Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con Chúa Thánh Linh (Chúa Thánh Thần). Đạo Thiên Chúa, coi Chúa trời thần linh, là tối cao và duy nhất ngự trên trời: ("Thiên" là trời, "Chúa" là chúa tể, là thống lĩnh."giáo" là tôn giáo, để giáo dạy và mọi người phải tuân theo.).

Cũng như những cuộc chiến lớn tiêu biểu bắt đầu bùng nổ trên thế giới vào năm 338 TCN gần thành phố Chaeronea tại vùng Boeotia, giữa Quân đội Macedonia dưới quyền vua Philippos II và Liên minh các các thành bang Hy Lạp, với các thành phần chủ yếu là Athena và Thebes). Trận đánh này là đỉnh điểm của chiến dịch chinh phạt Hy Lạp của Philippos II (339–338 trước Công Nguyên) và kết thúc với thắng lợi quyết định của quân Macedonia, khiến cho Macedonia vươn lên thành bá chủ của toàn bộ Hy Lạp. Trận chiến ghi dấu sự thay đổi sâu sắc về bản chất của nền quân sự Cổ Hy Lạp.
Philippos II đã đem lại hòa bình cho một Hy Lạp bị suy kiệt vào năm 346 TCN, bằng việc chấm dứt cuộc Chiến tranh Thần thánh lần thứ ba, và kết thúc 10 năm xung đột Athena để giành quyền bá chủ mạn Bắc biển Aegean, bằng việc ký kết một Hòa ước riêng rẽ  trở thành vị "minh chủ của Hy Lạp". Cũng trong trận giao chiến, Thái tử Alexandros của Macedonia đã chỉ huy quân sĩ tiêu diệt Đội Thần binh Thebes hùng mạnh, sau thắng lợi vua cha Philippos II đã củng cố ngôi Thái tử cho ông và trở nên tin tưởng vào tài dụng binh của Alexandros.  Sau chiến thắng, kết quả là, Liên minh Corinth ra đời, giữa Macedonia và các đồng minh của mình, với Philippos II là người quản giám nền hòa bình, cũng như Philippos II được đề cử làm Chủ soái dẫn đầu cuộc chiến tranh giữa toàn cõi Hy LạpĐế quốc Ba Tư, mà ông đã dự kiến từ lâu. Tuy nhiên, trước khi có thể xuất quân, Philippos II bị ám sát, Vương quốc Macedonia cùng với sứ mệnh chinh phạt Ba Tư đã được trao cho Thái tử Alexandros - đó là vua  Alexandros - Đại đế.
Đế chế Ba Tư và sau đó là cuộc Đại chiến A Lịch Sơn - Đại đế lớn nhất trong lịch sử trước công nguyên vào (tháng 7 năm 365 TCN đến ngày 11 tháng 6 năm 323 TCN), Alexandros đã chinh phục  thành công Đế chế Ba Tư, bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenicia, Gaza, Ai Cập, Bactria Lưỡng Hà (gồm lãnh thổ Iraq, đông Syria, đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, và tây nam Iran hiện đại), mở rộng biên cương đế chế (chế độ quân chủ tuyệt đối) của ông đến sang tận Punjab vùng "năm dòng nướclà một khu vực địa lý trải rộng qua biên giới giữa PakistanẤn Độthuộc Ấn Độ ngày nay.

Alexandros với chiến thắng của ông trước quân Ba Tư trong trận Gaugamela  chiến thắng quyết định thứ ba của ông trước vua Ba Tư Darius III - được xem là chiến công hiển hách nhất trong thời kỳ cổ đạicũng là cuộc đọ sức nảy lửa cuối cùng quyết định sự sụp đổ của đế quốc Ba Tư dưới triều Achaemenes. Không những thế ông còn đánh tan tác người Scythia một dân tộc bao gồm những người chăn thả gia súc, sống du mục, cưỡi ngựa, có nguồn gốc từ Iran đã thống trị vùng thảo nguyên Hắc Hải trong suốt thời kỳ cổ đại từ khoảng thế kỷ 8-7 TCN, là một dân tộc bách chiến bách thắng thời bấy giờ. Alexandros thực hiện một chính sách hòa hợp như: ông đưa cả những người ngoại quốc (không phải người Hy Lạp hay người Macedonia) vào chính quyền và cả quân đội của mình, ông khuyến khích hôn nhân giữa các tướng sĩ của mình với người nước ngoài và chính ông cũng lấy vợ người ngoại quốc. Vì thế ông được xem là một trong những chiến lược gia quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử.

Alexandros Đại Đế qua đời năm 323 TCN. Một viên cận thần của ông là Ptolemaios hùng cứ vương triều cuối cùng của Ai Cập cổ đại và lập nhà Ptolemaios lấy Alexandria làm thủ đô. Và Ptolemaios đã xây cho Alexandria khu văn hóa, thư viện, ngọn hải đăng, lăng Alexandros-Đại Đế và nhiều kiến trúc khác. Dân số Alexandria lên đến 1 triệu người vào khoảng năm 230 TCN và được coi là thành phố đông dân nhất thế giới mà người Âu biết được lúc bấy giờ.

Khi mà cả thế giới kinh hoàng và biết đến Alexandros, và những chiến công hiển hách của ông... thì cũng là lúc toàn bộ những tư tưởng của Đạo giáo, và các tín ngưỡng Tôn giáo trên khắp thế giới đã được định hình và thành lập nhanh chóng. Với tư tưởng và chuẩn bị thế lực vững chắc cho mình.. để rồi chiến tranh "toàn thế giới" lại bùng nổ và diễn ra sau đó. Được gọi là Chiến tranh thế giới thứ nhất.

Chiến tranh thế giới thứ nhất, còn được gọi là Đại chiến thế giới lần thứ nhất, hay Thế chiến thứ nhất cũng là Đệ nhất thế chiến, diễn ra từ tháng 8 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918, là một trong những cuộc chiến tranh  quyết liệt, quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại, quy mô và sự khốc liệt của nó chỉ đứng sau Chiến tranh thế giới thứ hai... Đây là cuộc chiến giữa hai phe Hiệp Ước của Anh Pháp ký kết vào ngày 08 / 04 / 1904 với tên"hợp đồng hữu nghị" về các vấn đề thuộc địa (chủ yếu là Anh, Pháp, Nga, và sau đó là Hoa Kỳ, Brasil), với  phe Liên Minh (chủ yếu là Đức, Áo-HungBulgaria). Lý do với sự kiện Hoàng thái tử người Áo-Hung bị ám sát, dẫn đến việc người Áo-Hung tuyên chiến với Serbia, và nối tiếp bởi việc Hoàng đế ĐứcWilhelm II truyền lệnh cho các tướng xua quân tấn công Bỉ, Luxembourg, và Pháp, theo kế hoạch cshlieffen năm 1905, một kế hoạch chiến lược để giành chiến thắng trong một cuộc chiến hai mặt trận, chống lại Đế quốc Nga ở phía đông và Đệ tam Cộng hòa Pháp ở phía tây. Với Hơn 70 triệu quân nhân được huy động ra trận tiền, trong số đó có 60 triệu người Âu châu, một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất trong sử sách.
Đây là cuộc chiến tranh có chiến trường chính bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra toàn thế giới, lôi kéo tất cả các cường quốc châu ÂuBắc Mỹ vào vòng chiến với số người chết là vô kể, với sức tàn phá và ảnh hưởng về vật chất tinh thần cho nhân loại rất sâu sắc và lâu dài. Khác với các cuộc chiến tranh trước đó, người Âu châu phải chiến đấu cả trên chiến trường lẫn ở hậu phương. Phụ nữ phải làm việc thay nam giới, đồng thời sự phát triển của kỹ nghệ cũng có ảnh hưởng đến tính chất chiến tranh.
Tất cả những Đế quốc quân chủ đều sụp đổ trong cuộc chiến tranh này, nó tạo điều kiện cho đảng Bolshevik lên nắm quyền tại nước Nga, và mở đường cho Adolf Hitler  lên nắm quyền tại Đức, rút cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Không có một nước nào thật sự chiến thắng chung cuộc chiến tranh này. Sau chiến tranh, châu Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng và những cao trào dân tộc chủ nghĩa trỗi dậy ở các nước bại trận. Điển hình là ở Thổ Nhĩ Kỳ, bão táp phong trào Cách mạng Giải phóng Dân tộc rầm rộ, đưa dân tộc này dần dần hồi phục, và buộc phe Entente "Đồng minh hữu nghị"  phải xóa bỏ những điều khoản khắc nghiệt, sau khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chấm dứt.

Trước đó, đây là một cuộc chiến để lập lại trật tự thế giới mới, nó làm sụp đổ bốn đế chế hùng mạnh của châu Âu và thế giới lúc đó là Đế quốc Nga, Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Ottoman , làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của châu Âu thế giới. Tuy nhiên cuộc chiến đẫm máu và khốc liệt như vậy nhưng cuộc chiến này đã không giải quyết được các mâu thuẫn gốc rễ và "thế giới mới" mà nó còn tạo ra cho châu Âuthế giới lâm vào các vấn đề và mâu thuẫn khác còn trầm trọng hơn như: phát sinh "nhà nước" theo chủ nghĩa cộng sản tại Nga, chủ nghĩa quân phiệt chủ nghĩa phát xít tại Ý, Đức Nhật, sự chia cắt, xâm phạm quyền tự quyết của các dân tộc... Những vấn đề đó đã dẫn đến bùng nổ Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đó là lý do một số nhà nghiên cứu cho rằng Chiến tranh thế giới thứ hai chỉ là sự nối tiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất sau 20 năm tạm nghỉ lấy sức.

Sau 20 năm tạm nghỉ chiến tranh, các thế lực: Nhà nước, phe cánh, liên minh, đồng minh, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, các bộ tộc, dân tộc cũng như tư tưởng các Đạo giáo... được bùng nổ mạnh mẽ và lan truyền khắp thế giới  loài người.

Chiến tranh thế giới thứ hai (cũng được nhắc đến với tên gọi Đệ nhị thế chiếnThế chiến thứ hai, hay Đại chiến thế giới lần thứ hai,...) là cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc bắt đầu từ năm 1937 hoặc 1939 và chấm dứt vào năm 1945 giữa các lực lượng phe Đồng Minh và phe Trục(các quốc giatheo chủ nghĩa phát xít. Hầu hết mọi lục địa trên thế giới đều bị ảnh hưởng của cuộc chiến này, ngoại trừ châu Nam Cực(không có dân bản địa sinh sốngNam Mỹ, khi ở cuối thế kỷ 16, phần lớn đã trở thành thuộc địa của thực dân Tây Ban NhaBồ Đào Nha (một trong những nước có nền kinh tế, chính trị quân sự mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, năm 1580, Bồ Đào Nha liên minh với Tây Ban Nha tạo thành Liên Minh Iberia) và không tham chiến. Thế chiến thứ hai là cuộc chiến rộng lớntai hại nhất trong lịch sử nhân loại.

Các nguyên nhân dẫn đến Đại chiến thứ hai được nêu ra rất nhiều, một đề tài đáng được chú ý và tranh cãi nhất, trong đó có: Hòa ước Versailles(năm 1919), đại khủng hoảng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa phát xít và  chủ nghĩa quân phiệt, ngày một lớn mạnh.. Chưa có sự thống nhất trong việc tính ngày bắt đầu cuộc chiến, có một số người cho rằng đó là khi Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, số người khác tính là ngày Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, còn số khác thì lại tính là sớm hơn nữa, tức: ngày Nhật xâm lăng Mãn Châu vào năm 1931. Đa phần số người cho rằng cả hai cuộc thế chiến thực ra chỉ là một và được chia ra bởi một cuộc ngừng bắn, và tiếp tục.

Các chiến sự đã xảy ra tại: Đại Tây Dương, Châu Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương và phần lớn của Đông Á Đông Nam Á. Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày 8 tháng 5 năm 1945 (theo giờ Berlin(Đức), còn theo giờ Moscow(Nga) là ngày 9 tháng 5), khi đại diện nước Đức phải ký hiệp định đầu hàng không điều kiện Đồng Minh tại Karlhorst, ngoại ô Berlin trước sự chứng kiến của đại diện 4 nước Anh, Pháp, Mỹ Liên Xô. Hiệp định này cũng chính thức chấm dứt Thế chiến thứ hai tại Châu Âu. nhưng vẫn còn tiếp diễn tại châu Á cho đến khi Nhật đầu hàng vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, do Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Mamoru Shigemitsu ký vào văn kiện thư đầu hàng Đồng Minh trên boong tàu USS Misori(Bốn tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ) đậu trên Vịnh Tokyo, và kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai.

Thế chiến thứ hai là một cuộc Chiến tranh toàn diện, mà trên thế giới không ai là không biết, kể cả dân thường không ở mặt trận lúc bấy giờ cũng bị đánh bom hàng loạt. Khoảng 70 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này (thống kê vẫn tiếp tục nghiên cứu), kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc Xã (thảm họa lớn). Trong đó có 60% người chết là thường dân, chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô với 23 tới 27 triệu người chết, trong khi tính theo phần trăm dân số thì là Ba Lan với 16% (5,6 triệu người chết so với 34,8 triệu người trước chiến tranh).

Vũ khí nguyên tử, máy bay phản lực, ra-đa... là một số phát minh thành công trong cuộc chiến.

Với những ký ức nhân loại, lịch sử thế giới về loài người đã chứng minh cho thấy mọi thế hệ, từ: trực tiếp qua gián tiếp, những người đại diện, lãnh đạo, những quân nhân, nhân dân cũng như mọi tầng lớp già trẻ... Đã nhận biết được rõ, đó là "sai lầm lớn đáng tiếc" cho con người. Thì cũng là lúc toàn bộ các cơ quan nhà nước với bộ máy Chính trị, đảng bộphe cánhliên minhđồng minhchủ nghĩa cộng sảnchủ nghĩa phát xít, các bộ tộcdân tộc cũng như tư tưởng các Đạo giáo... đã phải dừng và kết cấu lại toàn bộ theo một xu hướng vì loài người văn minh, vì thế giới xanh hòa bình... Là lúc mọi chính quyền, chính sách bảo hộ cho an nguy sự sống của con người đã lên cao. Đồng thời các tín ngưỡng, tôn giáo, cũng giảm đi đáng kể trong cuộc sống hiện thực, cùng góp phần chung cho tiêu chí phát triển xã hội trên tinh thần: Văn hóa, Kinh tế, Chính trịKhoa học.. theo đúng quy trình thực tiễn, với mọi tổ chức của Chính quyền pháp chế Nhà nước cũng cụ thể.

Đúng sai khổ ải thăng trầm
Tháng năm còn đó con đường đã qua
Mong sao mong mãi sau này
Thế gian thấm hiểu hãy đồng trí tâm

Chớ lên ai oán mơ hồ
Giữ cho tố chất lý thuần thấm sâu
Cho mai, cho mãi trong ngần
Cho thêm nghĩa Đạo muôn phần sắt son !


Tư duy Đạo giáo luôn là hướng đi vững chắc, là niềm tin lý tưởng, cho chân lý của con người khi mà đã thấu hiểu và hoàn toàn biết cách chế ngự, phát triển và thúc đẩy nó từ những: trừu tượng trong tâm linh, đến lý luận, triết lý của thiên nhiên vạn vật... chuyển sang thành lòng kiên trì phát triển trên khoa học thực tế .. Cũng như xóa bỏ lý tưởng đen tối, để trở về với ánh sáng chân thực của cuộc sống, tạo cho con người mãi mãi có một "Tố chất trong Đạo lý đã được Thuần khiết".


     ____________DS & CN_____14 / 09 / 2015_____Trương văn Khẩn____________










Không có nhận xét nào: